ÂM NHẠC VÀ NHẠC CỤ TRONG TỨ PHỦ | FOUR PALACE

Với một vở diễn được bắt nguồn từ văn hóa dân gian Việt Nam như Tứ phủ | Four Palaces, âm nhạc chính là một trong những nhân tố quan trọng nhất. Nếu như cung văn là những người kể chuyện, thì âm nhạc chính là từng câu chữ, chi tiết trong những câu chuyện của Tứ phủ | Four Palaces. Không chỉ đóng vai trò tạo cảm xúc cho người xem thông qua thính giác, âm nhạc trong vở diễn Tứ phủ|Four Palaces chính là con đường dẫn dắt khán giả qua những trải nghiệm khác nhau về văn hóa, con người và lịch sử Việt Nam.

1. Chầu Văn (Hát văn)

Thể loại âm nhạc được sử dụng trong vở diễn Tứ phủ|Four Palaces là Chầu văn – hình thức diễn xướng sử dụng lời văn trau chuốt, nghiêm trang và tiếng hát đầy cảm xúc với mục đích xưng tụng các bậc Chư Thánh trong Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Lời ca trong các bản văn chầu thường kể lại những sự tích (từ nguồn gốc, công trạng, gia thế tới những nơi Chư Thánh từng xuất hiện và được thờ tự…) thông qua đó, người nghe có thể hiểu được tính cách và cuộc đời của những vị Thánh trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu. Bên cạnh đó, Chầu văn cũng chứa đựng tất cả các giá trị nghệ thuật dân gian thông qua âm nhạc, vốn đã luôn được xem như sợi dây kết nối tự nhiên nhất những cảm xúc trong tâm hồn người nghe.

Chầu văn có nhiều làn điệu khác nhau trong đó có vai trò quan trọng hơn cả gồm 4 điệu: Dọc, Cờn, Phú tương ứng với từng “nhiệm vụ” khác nhau trong một điệu hát Chầu văn.

Điệu Dọc (hát nhịp đôi) luôn được hát trong quá trình Thanh đồng thực hiện nghi thức thay khăn áo, có tiết tấu chậm rãi và đóng vai trò chủ chốt trong hệ thống làn điệu Chầu văn.

Làn điệu Cờn (sử dụng nhịp đôi) lại thể hiện sự duyên dáng của các Thánh nữ có lúc tươi sáng nhưng sau đó lại tạo cho người nghe cảm giác buồn man mác.

Bên cạnh đó, làn điệu Phú thể hiện tính chất đối ngược nhau tùy thuộc vào vị Chư Thánh được nhắc tới trong câu hát. Điệu Phú (hát trên nhịp ba) thường trịnh trọng, đĩnh đạc khi nhắc tới các vị Chư Thánh là nam, trái ngược với khi hát trên nhịp đôi mang tính chất nhẹ nhàng, duyên dáng hoặc đôi khi ai oán trong những câu hát về các vị Chư Thánh là nữ.

Làn điệu Xá lại hết sức đặc trưng mang nét văn hóa vùng cao, với những âm hưởng dân ca miền núi làm người nghe liên tưởng ngay tới các Thánh nữ miền sơn cước trong các giá Chầu Đệ Nhị (The Second Lady of Highlands), Cô Bé Thượng Ngàn (The Little Fairy of Highlands)

Chầu Văn cũng vì thế mà sử dụng những nhạc cụ dân tộc mang đến nhịp điệu, tiết tấu đa dạng và có tính thanh điệu cao, phù hợp để linh hoạt trong quá trình diễn xướng, trong đó hầu như luôn có sự góp mặt của: đàn Nguyệt, đàn Tranh, Sáo và Trống.

2. Đàn Nguyệt

Đàn Nguyệt - còn được cho là “đàn guitar của Việt Nam” với tính chất độc đáo. Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như mặt trăng nên dễ hình dung tại sao được gọi là “Đàn Nguyệt”. Khi được so sánh với Nguyệt Cầm (Yueqin) từ Trung Quốc, Đàn Nguyệt của Việt Nam khác biệt với cần đàn dài, phím đàn được thiết kế cao và đặc trưng hơn cả là chỉ có 2 dây đàn để thể hiện các cao độ âm thanh khác nhau (thay vì 4 dây như Nguyệt Cầm của Trung Quốc).

Dan Nguyet

Đàn Nguyệt với hộp đàn tròn và đặc trưng sử dụng 2 dây đàn cho những cao độ âm thanh khác nhau

Đàn Nguyệt khi độc tấu đóng vai trò quan trọng hơn cả trong việc hòa quyện âm điệu hát văn với các cung bậc tình cảm khác nhau được thể hiện bởi diễn xuất của diễn viên.

Âm thanh từ Đàn Nguyệt khi thì uy nghi trong lúc Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn thưởng trà, khi thì mượt mà, êm dịu như những câu thơ viết về quê hương đất nước của Ông Hoàng Mười và cũng có khi loại linh hoạt náo nhiệt mỗi lần Cô Bé Thượng Ngàn xuất hiện trên sân khấu. Bởi vì sự tinh tế này tiếng Đàn Nguyệt luôn là âm thanh đầu tiên khán giả được nghe thấy khi vở diễn Tứ phủ|Four Palaces bắt đầu.

Không chỉ đóng vai trò quan trọng khi chơi độc tấu, mà Đàn Nguyệt còn có vai trò lấy, giữ nhịp/phách cho trống và cung văn để bắt đầu câu hát. Hơn thế nữa, âm thanh của Đàn Nguyệt còn tạo sự hưng phấn cho diễn viên trở nên thăng hoa hơn trong từng bước di chuyển, động tác biểu diễn.

3. Đàn Tranh

Đàn Tranh hay còn gọi là Đàn Thập Lục, là nhạc cụ dây gảy của dân tộc Việt. Đàn không có cần, thân đàn đồng thời là hộp cộng hưởng.

Dan Tranh

Đàn Tranh được có 16 dây mắc dọc theo thân và trải đều trên bề mặt của đàn.
Phía dưới các dây có các con nhạn (gối kê dây đàn)
có thể chuyển dịch được để điều chỉnh cao độ.

Trong vở diễn Tứ phủ|Four Palaces, vai trò của đàn tranh được làm nổi bật trong giá Ông Hoàng Mười khi thể hiện sự lãng mạn, trữ tình theo từng bước chân của nhân vật. Khi thì thanh mảnh cùng Ông Hoàng Mười dạo chơi vãn cảnh, lúc lại mềm mại kết hợp cùng những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, đất nước.

4. Sáo

Sáo là nhạc cụ trong bộ hơi của nhóm nhạc cụ dân tộc của Việt Nam. Trong vở diễn Tứ phủ|Four Palaces, thường có 4 loại sáo được sử dụng với những điểm đặc điểm âm thanh độc đáo xuất phát từ những vùng miền khác nhau.

Sao

Theo thứ tự từ trái sang: 4 loại sáo Trúc với cao độ khác nhau,
sáo Mèo (sáo Hmong) đơn, sáo Pí (trái) kết hợp với sáo Mèo (phải)

Sáo Trúc: mang tính chất đặc trưng của âm nhạc dân gian Bắc Bộ. Khi được thổi, sáo trúc thường tạo ra âm thanh, véo von, thánh thót và trong trẻo thích hợp với sự miêu tả hình tượng của các vị Chư Thánh là nữ.

Tiêu: âm thanh của Tiêu thường trầm hơn sáo trúc và tạo cho người nghe những cảm xúc chậm và trữ tình kết hợp với những điệu hò miền Trung trong giá ông Hoàng Mười.

Sáo Mèo (Sáo Hmong): được biết đến như nhạc cụ thông dụng của dân tộc Hmong tại miền Bắc Việt Nam. Mang âm hưởng vùng núi Tây Bắc, Sáo Mèo luôn khiến người nghe hòa mình vào không gian núi rừng thuần khiết và tự nhiên trong giá Cô Bé Thượng Ngàn.

Sáo Pí (Pí Pặp): được sử dụng nhiều bởi dân tộc Thái. Âm thanh của Sáo Pí tạo nên sức sống mãnh liệt và âm điệu rộn ràng cuốn hút người xem bằng những bước chân thanh thoát của những vị Thánh cô miền sơn cước, điệu đà

5. Trống

Thường xuyên xuất hiện trong đời sống của người Việt với nhiều công dụng hiệu triệu mọi người, thông báo hoặc cổ động… âm thanh của Trống là một trong những âm thanh quen thuộc nhất khi nhắc tới văn hóa Việt Nam.

Không chỉ vậy, trong vở diễn Tứ phủ|Four Palaces, vai trò của Trống càng được nhấn mạnh khi nhạc cụ này làm nổi bật chiến công của Ông Hoàng Mười (The Tenth Prince) mỗi lần ông ra trận dẹp giặc cứu dân. Tiếng trống đanh thép và mạnh mẽ lúc ra trận cũng thể hiện tính cách hào sảng của vị Thánh cũng như tính chất lịch sử hào hùng cùng lòng yêu nước của người Việt.

Trong

Bộ trống (phải) được sử dụng trong vở diễn Tứ phủ|Four Palaces được cấu tạo từ 4 loại trống khác nhau với
kích thước và tính chất âm thanh khác nhau. Trống càng nhỏ, âm thanh càng cao và đanh thép trong khi
đó trống lớn tạo ra âm thanh trầm và đầy uy lực. Bên trái là chuông – nhạc cụ mang lại âm thanh
thường xuất hiện tại không gian đền, phủ.

Âm nhạc, nhạc cụ truyền thống của Việt Nam nói chung và nghi lễ Chầu văn của người Việt nói riêng đã trải qua những giai đoạn thăng trầm và đang phục hồi mạnh mẽ trong những năm gần đây. Những cung văn, ông đồng, bà đồng thở thành những nghệ sỹ dân gian với kinh nghiệm và tri thức của mình về lời văn, làn điệu cổ - vẫn đang ngày ngày truyền dạy, chỉ bảo theo phương thức truyền miệng từ đời này sang đời khác, hoặc được giảng dạy một cách bài bản và chuyên nghiệp ở các học viện và trường đại học về âm nhạc, mà chủ yếu trước đây là ở nước ngoài.

Bây giờ, âm nhạc truyền thống của Việt Nam không chỉ vang lên trong những khu giảng đường trước những nhạc sĩ tương lai của một nền âm nhạc dựa trên nhạc học phương Tây, mà nó - còn được tái hiện trên nhiều sân khấu trong các buổi biểu diễn chuyên nghiệp ngay tại Việt Nam, bởi những người con Việt Nam yêu nền văn hóa dân gian ngàn năm.

Tiêu biểu nhất trong số đó là vở diễn Tứ phủ|Four Palaces của Nhà Hát Việt, mang trọn tâm huyết của đạo diễn Việt Tú và tất cả những bạn trẻ cùng chung niềm hy vọng, rằng những giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam sẽ ngày càng được nhiều khán giả trong nước và quốc tế quan tâm và yêu mến...